Thương hiệu hàng Việt hay Nguyên liệu hàng Việt

Năm 2006, kim ngạch xuất khẩu hàng hoá của cả nước có thể đạt mức 38 tỷ USD, vượt mục tiêu mà Quốc hội đã đề ra. Tuy nhiên, nhìn vào cơ cấu mặt hàng xuất khẩu và cơ cấu giá trị trong mỗi đơn vị hàng hoá xuất khẩu sẽ thấy có nhiều mặt hàng chủ lực nếu chúng ta xuất khẩu càng nhiều thì càng thiệt thòi. Từ đó đặt ra câu hỏi: Thương hiệu hàng Việt hay nguyên liệu hàng Việt?
Lượng cà phê Việt Nam xuất khẩu ra thị trường thế giới mỗi niên vụ đủ làm biến động giá cà phê trên các sàn giao dịch quốc tế nhưng mấy ai biết đến một thương hiệu cà phê rang xay của Việt Nam?. Chè Việt Nam mỗi năm xuất sang thị trường Nga vài chục nghìn tấn, nhưng người tiêu dùng Nga chỉ biết đến các nhãn mác chè Ấn Độ chứ mấy ai biết đến đó là chè Việt Nam do các hãng chè Ấn Độ mua về đóng gói rồi xuất sang Nga. Con cá Đỏ Củ của vùng biển miền Trung Việt Nam xuất sang Nhật Bản trở thành món đặc sản đắt tiền nhưng lai mang tên Nhật là cá Taka. Các món ăn chế biến từ tôm cá Việt Nam vẫn không thể có mặt trong các siêu thị lớn của Nhật, mà thay vào đó chỉ là tôm cá đông lạnh mà thôi. Phần giá trị gia tăng chiếm rất lớn của mỗi mặt hàng chế biến sâu lại thuộc về các hãng chế biến nước ngoài.
Sau nhiều năm chật vật, tỷ trọng hàng Việt Nam xuất khẩu đã qua chế biến, cho dù mới ở dạng thô cũng mới chỉ dừng lại ở mức gần 40% tổng lượng hàng xuất khẩu. Điều này có nghĩa là món tiền mang về từ các mặt hàng xuất khẩu của chúng ta nhỏ nhoi hơn nhiều so với những mặt hàng cùng loại của các nước khác. Gạo của Thái Lan luôn bán được với giá cao hơn vài chục USD so với gạo cả nước ta. Cùng sản xuất - xuất khẩu gạo nhưng thu nhập của người nông dân Việt Nam thấp hơn nhiều so với người nông dân Thái Lan, và nhiều nông dân khác trên thế giới. Tổ chức OXFARM đã chứng minh rằng, trong giá bán một cốc cà phê của người tiêu dùng châu Âu, lợi nhuận mà người trồng cà phê ở các nước đang phát triển có được chỉ là 8%, phần lợi nhuận kếch sù còn lại còn lại thuộc về nhà rang xay, chế biến.
Danh sách mặt hàng xuất khẩu chủ lực đang dần tăng lên, song lo ngại cũng tăng theo. Nào gạo, tiêu, điều, cà phê, thủy hải sản, đồ gỗ, dệt may, giày dép, hàng điện tử và linh kiện máy tính, dầu thô, than đá…. phần lớn các mặt hàng này đều xuất khẩu dưới dạng nguyên liệu thô hoặc chỉ là sơ chế, các mặt hàng công nghiệp cũng đều mang hàm lượng chất xám thấp. Tỷ trọng chế biến trong một số mặt hàng công nghiệp xuất khẩu chủ lực cũng đáng suy nghĩ. Doanh thu xuất khẩu hàng dệt may của nước ta đạt gần 5 tỷ USD/năm, thế nhưng 65% giá trị đó thuộc về các công ty đặt hàng nước ngoài. Mặt hàng giày dép cũng tương tự. Rồi đồ gỗ xuất khẩu thì 80% nguyên liệu phải nhập khẩu, hàng điện tử cũng chủ yếu là lắp ráp từ linh kiện nhập khẩu. Hay mỗi năm ta xuất khẩu khoảng 16 triệu tấn dầu thô nhưng phải nhập về cũng ngần ấy tấn xăng dầu thành phẩm. Hay những ngày gần đây, nhiều phương tiện thông tin đại chúng phải đồng loạt lên tiếng phản ánh tình trạng xuất khẩu quặng thô tràn lan qua biên giới...
Cách đây chưa lâu, có chuyên gia kinh tế nước ngoài đã từng đặt vấn đề liệu Việt Nam có nên đầu tư cho cả chục triệu hộ nông dân trồng lúa quanh năm để cả năm chỉ mang về 1 tỷ USD kim ngạch từ xuất khẩu gạo hay không? Tất nhiên, đó là quan niệm trong cách nhìn của chuyên gia kinh tế nước ngoài, thế nhưng ý kiến này cũng khiến nhiều người trong chúng ta thấy rằng cần phải suy nghĩ nghiêm túc - ở những khía cạnh khác nhau. Một đất nước sản xuất nông nghiệp, mỗi năm làm ra khoản 35-37 triệu tấn thóc, xuất khẩu 4-5 triệu tấn gạo, mà tỷ lệ thất thoát sau thu hoạch lúa lên đến 13% sản lượng thì thật không thể chấp nhận. Tại khu vực đồng bằng sông Cửu Long - vựa lúa của cả nước, ngay số máy sấy lúa thô sơ cũng thiếu trầm trọng. Một con số mới được đưa ra tại Hội nghị quốc gia về Thúc đẩy đổi mới và sáng tạo mới đây đã khiến nhiều người giật mình: Tỷ lệ đầu tư cho đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp Việt Nam chỉ khoảng 0,2 – 0,3% doanh thu. Đây là một tỷ lệ quá thấp so các nước trong khu vực, ví dụ Ấn Độ là 5%, Hàn Quốc là 10%. Tỷ lệ đổi mới máy móc thiết bị của Việt Nam hàng năm cũng chỉ đạt 8-10%, trong khi ở các nước trong khu vực thì tỷ lệ tương ứng là 15-20%.
Mục tiêu của chúng ta là nâng cao tỷ trọng hàng đã qua chế biến trong tổng lượng hàng xuất khẩu và nâng giá trị gia tăng của mỗi sản phẩm. Có nghĩa là phải nâng hàm lượng chất xám trong mỗi sản phẩm xuất khẩu. Trong điều kiện chung của nền kinh tế hiện nay, mặc dù đầu tư cho khoa học công nghệ ngày càng tăng lên, song cũng chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển của nền kinh tế. Tuy nhiên, chúng ta chỉ có thể đầu tư dần theo từng trọng điểm, đặc biệt là tránh tình trạng dàn trải. Hiện nay dự án thành lập Quỹ đầu tư mạo hiểm cho công nghệ mới trị giá 450 tỷ đồng từ nguồn vốn ngân sách nhà nước đang được xây dựng với mục tiêu giúp các doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư vào sáng tạo các sản phẩm công nghệ mới. Bộ Khoa học và Công nghệ cũng đã có Chương trình Ứng dụng công nghệ tiên tiến trong sản xuất các sản phẩm chủ lực và sản phẩm xuất khẩu nhằm hỗ trợ nâng cao chất lượng hàng hóa trong đó có hàng xuất khẩu. Với chương trình này, hàng loạt sản phẩm đang được đầu tư nghiên cứu để nâng cao chất lượng.
Những chương trình như vậy đã và đang được triển khai thực hiện nhưng chưa nhiều, chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế. Vấn đề là phải để đặc sản từ tôm cá Việt Nam được chế biến tinh ngay tại thị trường Việt Nam và đến thẳng với bửa ăn của người tiêu dùng khó tính như Nhật Bản, EU thì mới có thể mang về những đồng ngoại tệ xứng đáng. Làm sao để hàng xuất khẩu của Việt Nam đạt được trị giá đúng trên thị trường thế giới. Xứng đáng với công sức lao động và nguồn vốn mà ta đã đầu tư. Đây là trách nhiệm của mỗi công dân Việt Nam, để Thương hiệu hàng Việt có vị trí xứng đáng trên thị trường thế giới chứ không phải là nguyên liệu hàng Việt Nam như hiện nay.
(Theo báo Người Đại Biểu Nhân Dân)
0 nhận xét: