Xuất khẩu nông sản thô: Lượng tăng, giá giảm

Gần đây nhiều kết quả xuất khẩu nông sản công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng luôn kèm theo thông tin“tăng về lượng hàng nhưng giảm về giá xuất”. Phía sau thông tin này chứa đựng nhiều điều đáng suy ngẫm.
Nguyên nhân chính là doanh nghiệp chủ yếu xuất khẩu sản phẩm nông sản thô. Trong khi đó, do khủng hoảng kinh tế nên giá của nhiều nông sản trên thị trường thế giới đã giảm mạnh. Và do xuất khẩu sản phẩm thô khiến hàng hóa Việt Nam ít được người tiêu dùng tại các thị trường xuất khẩu biết đến. Đại sứ Nam Phi tại Việt Nam cho biết, người tiêu dùng Nam Phi thường xuyên dùng gạo, nhiều hàng hóa công nghiệp, nội thất của Việt Nam nhưng  rất ít người biết đấy là hàng Việt Nam. Bởi những hàng hóa này đều nhập khẩu vào Nam Phi qua Singapore và Hong Kong, nên mang nhãn mác, thương hiệu của các doanh nghiệp nhập khẩu. Theo số liệu do một nhà ngoại giao Nhật Bản cung cấp đã được công bố trên báo chí, trong năm 2008 Nhật Bản nhập khẩu từ nước ta là 45.500 tấn tôm đông lạnh, 55.000 tấn cà phê, 7.500 tấn rau và nhiều nông sản, hải sản khác. Thế nhưng trên thị trường Nhật Bản, hầu như không có tên tuổi các sản phẩm này của Việt Nam.
Xuất khẩu sản phẩm thô không chỉ khiến hàng hóa Việt Nam ít được người tiêu dùng nước ngoài biết đến, mà còn giảm hiệu quả của sản xuất nông nghiệp. Theo tính toán của Tổ chức Oxfarm của Anh, trong tổng lợi nhuận của một cốc cà phê bán đến tay người tiêu dùng châu âu, người nông dân chỉ nhận được 8%, số còn lại thuộc về doanh nghiệp rang xay, chế biến, kinh doanh. Còn theo điều tra của Viện nghiên cứu phát triển đồng bằng sông Cửu Long, trong tổng lợi nhuận thu được từ con cá tra, người nuôi cá thu được 19,4%, thương lái thu được 2,1%, và 78,5% tổng lợi nhuận thuộc về công ty chế biến và kinh doanh xuất khẩu. Điều này cho thấy sản xuất nông nghiệp muốn đạt được có hiệu quả cao thì phải nâng tỷ lệ hàng hóa đã qua chế biến để tăng giá trị và giá bán sản phẩm, và quan trọng hơn là phải làm chủ được quá trình gia tăng giá trị của sản phẩm. Phải giảm xuất khẩu nguyên liệu thô bằng đầu tư đúng mức cho khâu chế biến, đổi mới thiết bị, công nghệ chế biến…
Nhằm khắc phục hạn chế của xuất khẩu nông sản, Chính phủ liên tục ban hành các chính sách khuyến khích sử dụng và phát triển máy móc thiết bị công nghệ. Trong đó có chính sách hỗ trợ 100% kinh phí cho tổ chức, cá nhân mua bằng sáng chế các loại máy móc có khả năng áp dụng rộng rãi trong nước nhằm giảm tổn thất sau thu hoạch. Các tổ chức cá nhân thực hiện dự án ứng dụng khoa học công nghệ vào lĩnh vực này thì được hỗ trợ một nửa chi phí chuyển giao công nghệ từ Quỹ đổi mới công nghệ quốc gia. Người nông dân còn được hỗ trợ cả vốn vay lẫn lãi suất vay vốn để mua sắm thiết bị sản xuất nông nghiệp và chế biến nông sản. Chính phủ cũng chỉ đạo, đối với lương thực là lúa và ngô, phải tập trung vào cải thiện các khâu đang có mức tổn thất lớn; tăng nhanh tỷ lệ cơ khí hóa kết hợp với ứng dụng các kỹ thuật bảo quản tiên tiến; xây dựng hệ thống kho chứa thóc gạo có sức chứa 4 triệu tấn; phấn đấu có một nửa diện tích lúa được thu hoạch bằng máy...
Tuy nhiên, theo các chuyên gia, sự đầu tư của Nhà nước vào nông nghiệp cũng cần tính toán hợp lý để cân đối, hài hòa lợi ích của các bên liên quan trong chuỗi sản xuất kinh doanh. Bởi hiện chưa hài hòa lợi ích giữa người nông dân, đầu mối thu mua, doanh nghiệp. Người nông dân thường thiếu chủ động và thường chịu thiệt thòi hơn. Họ sản xuất rồi bán nông sản cho thương lái hay doanh nghiệp mà giá cả phụ thuộc vào người mua. Thế nhưng cũng nhiều trường hợp chính người nông dân lại găm hàng, lên giá, làm khó khiến doanh nghiệp lao đao vì thiếu nguyên liệu cho chế biến, bị bạn hàng phạt vì giao hàng không đúng tiến độ và lỡ mất các hợp đồng xuất khẩu mới. Giải pháp liên kết giữa 4 nhà (nhà nông –sản xuất, nhà doanh nghiệp - tiêu thụ, nhà khoa học - giải pháp giống và công nghệ, nhà nước - quản lý) cần được áp dụng nghiêm túc, đầy đủ trong thực tế.

0 nhận xét:

.